Trà đạo Nhật Bản
Năm Thiệu Hy thứ hai thời Nam Tống (năm 1191), có một vị cao tăng người
Nhật là Eisai (âm Hán Việt là Vinh Tây) sang Trung Hoa để tham vấn học đạo. Khi
trở về nước, ông mang theo một số hạt trà về trồng trong sân chùa. Sau này, ông
cũng là người viết cuốn “Khiết Trà Dưỡng Sinh Ký” (Kissa Yojoki), ghi lại mọi
chuyện liên quan tới việc uống trà.
Từ việc uống trà tới
cách pha trà, rồi nghi thức thưởng thức trà, cho đến khi đúc kết thành trà đạo
là một nét văn hóa (Ảnh: duepuntozero.alemanno.it)
Phép tắc chỉ gói gọn trong 4 từ “hòa, kính, tinh,
mịch”.
Trà đạo Trung Hoa
Nghệ thuật uống trà bao gồm hai phần: một là
phương pháp thưởng thức trà, gồm: thế (ngâm) trà, thưởng trà, văn (ngửi) trà,
ẩm (uống) trà; mặt khác là tu dưỡng, tức là phải thông qua tu thân, nuôi dưỡng
tinh thần, nâng cao tư tưởng cá nhân thông qua việc ẩm trà.

Người sáng lập nghệ thuật trà đạo Trung Hoa
đời Đường là Lục Vũ.

Người sáng lập nghệ thuật trà đạo Trung Hoa
đời Đường là Lục Vũ.
Trà
đạo Việt Nam
Cách thưởng trà của người Việt cũng mang nét
văn hóa riêng: trước khi uống thường đưa qua mũi để tận hưởng
hương vị trà, sau mới hạ dần xuống miệng, môi nhấp ngụm nhỏ
thấy chát đắng, sau đó chuyển sang vị ngọt dịu, lòng sảng khoái luận về
trà.
Cách uống trà của người Việt giản dị, gần gũi, nhưng cũng rất đỗi tinh
tế như tâm hồn người Việt. Nghệ thuật trà Việt cốt là
- Tình người,
- Tình nghĩa bạn bè tâm giao,
- Giao hòa con người với thiên nhiên.
Người Việt thường dùng trà mộc ướp với
nhiều hương liệu khác
nhau thành các loại trà như sau: Trà sen, Trà hoa nhài, Trà hoa ngâu,
Người Việt thưởng trà theo cách:
Độc ẩm (một mình),
Đối ẩm (hai người),
Quần ẩm (nhiều người).
Người Việt có câu: “Nhất thủy, nhì trà, tam bôi, tứ
bình, ngũ quần anh”.
Đó là những yếu tố liên quan chất lượng nước trà sau khi hãm.
Đó là những yếu tố liên quan chất lượng nước trà sau khi hãm.
Nhất thủy, đó là
vị trí quan trọng của nước pha trà. Thường dùng nước mưa hay từ suối nguồn tự
nhiên. Cách đun nước cũng phải phải đảm bảo giữ được độ thanh tĩnh (khoảng 75 -
90 độ C) không làm ảnh hưởng đến hương vị của trà. Hoàng cung xưa pha trà
rất cầu kỳ và công phu, phải hứng từng giọt sương trên búp sen vào lúc chưa có
nắng. Người "sành trà " thường dùng nước mưa để giúp cho nước trà
tăng thêm vị ngọt, sau khi uống sẽ thấy vị ngọt lưu lại nơi cổ họng.
Nhì
trà, dân gian câu "Chè Thái, gái Tuyên", chè Thái nguyên có
từ lâu, có hương vị đượm, nước màu dịu, ...do đó trà Thái Nguyên là loại dùng
hàng ngày. Việt Nam điều kiện nhiệt đới, thuân lợi cho nhiều vùng, nhiều loại
chè như chè Suối Giàng Hà Giang, chè Bảo Lộc Lâm Đồng,...
Tam
bôi, 4 chén quân cùng với 1 chén tống để chuyên trà và giữ nhiêt để
giữ hương chè.
Tứ
bình, chính là ấm hãm trà, sao cho tan hương vị chè vào nước hãm,
nhưng không nồng.
Trước khi pha trà phải tráng ấm bằng nuớc nóng, rồi cho trà vào,
khi pha xong đậy nắp kín để giữ nhiệt độ trong ấm, giúp cho các cánh trà tan.
Ngũ
quần anh là bạn cùng uống trà, là người tri âm, cùng nhau thưởng trà,
ngâm thơ, bộc bạch nỗi niềm hay bàn chuyện nhân tình thế thái, cảm nhận trong
trà có cả trời đất, cỏ cây.
Như
vậy, trong văn hóa của phương Đông, trà đạo vừa ẩn chứa vẻ đẹp tinh anh và
thanh tao của Phật giáo, vừa ẩn chứa vẻ đẹp thầm kín huyền ảo của Đạo giáo, lại
vừa ẩn chứa vẻ đẹp nho nhã hàm xúc của Nho gia. Nói một cách ngắn gọn, “trà
đạo” ẩn chứa nội hàm của tu dưỡng. Vậy mới nói, văn hóa giống làn gió
xuân, âm thầm nuôi dưỡng để hình thành nên bông hoa tinh khiết tuyệt vời – và
đó chính và văn hóa trà đạo.
Trong dân
gian, các nước Á Đông đều có tập quán “Khách đến mời trà”, đã phản
ánh đầy đủ vị trí quan trọng của trà trong nghi lễ truyền thống Á Đông.
Tuyết tan thanh
ngọt suối nước trong,
Trà bếp bày ra chẩn bị xong,
Sự đời bỗng chốc tâm chẳng gợn,
Trăm năm chẳng uổng cũng chẳng mong.
(Lục Du – Tuyết tan nấu trà)
Giá
trị y học của Trà đạo
Cách đây gần 2.000 năm, trà đã được sử dụng như một vị thuốc, giúp con
người thanh nhiệt và là loại thuốc giải độc công hiệu. Việc sử dụng hằng ngày
loại đồ uống này có thể giúp phòng và chữa nhiều bệnh tật, giúp thư giãn tinh
thần. Theo y học hiên đại, trong Trà còn có những chất làm giảm sự lão hóa của
tế bào, ngăn chặn sự thoái hóa của tế bào thần kinh và có khả năng phòng chống
ung thư.
Trà thì
đắng, nhưng lại là đắng có ý vị. Người nếm trà từ mùi vị của trà mà thưởng thức
vị đắng của nhân sinh. Mặt khác trong Y học cổ truyền Trung Hoa, đắng bổ
tâm, tức vị đắng của trà mà bổ tim huyết. Lý
Thời Trân trong “Bản thảo cương mục” có viết:“Trà đắng mà tính
hàn, trong âm có âm, cực kỳ tốt khi dùng để kháng lại tính hỏa, hỏa là trăm
bệnh, nhờ vậy trăm bệnh tất có thể được thanh trừ”.
Theo đặc tính của trà là trước đắng sau lại ngọt, trong đắng có ngọt, nhờ
đó mà hiểu ra được đạo lý làm người: tiết kiệm, đạm bạc, lấy khổ làm vui.
Pha trà và uống trà là nghệ thuật
Để có một ấm trà ngon, thì
việc chuẩn bị trà, nước, ấm pha trà, và chén dùng trà cũng phải
tuân theo một yêu cầu.
Pha trà cũng là một nghệ thuật. (Ảnh:
pinterest.com)
Trước tiên lá trà phải lựa để phơi khô phải là lá trà khỏe, tươi không bị dập nát, trải qua quá trình sơ chế, sao khô hạ thổ. Nước pha trà có thể là là nước giếng, nước mưa hay nước suối… Ấm và chén dùng để pha trà thường được dùng là gốm sứ, có tính giữ nhiệt và đảm bảo vị tươi ngon và lưu giữ tốt nhất hương thơm của trà.
Trước tiên lá trà phải lựa để phơi khô phải là lá trà khỏe, tươi không bị dập nát, trải qua quá trình sơ chế, sao khô hạ thổ. Nước pha trà có thể là là nước giếng, nước mưa hay nước suối… Ấm và chén dùng để pha trà thường được dùng là gốm sứ, có tính giữ nhiệt và đảm bảo vị tươi ngon và lưu giữ tốt nhất hương thơm của trà.
Uống Trà Thái Nguyên, ăn cùng với kẹo lạc Nam Định là thú tiêu giao người vùng Nam Định, Hà Nam, Thái Bình...
Khi đi thăm quan làng Đường Lâm - TX.Sơn Tây thăm dich tích lịch sử làng sinh 2 vua, có dịp thưởng thức kẹo lạc với trà Thái Nguyên...
Kẹo Lạc Nam Định - Chè Thái Nguyên







Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét